Nuôi trồng thủy sản – Duankhudothi.com https://duankhudothi.com Cập nhật thông tin mới nhất về các dự án khu đô thị, bất động sản, quy hoạch, thiết kế và chính sách. Tue, 23 Sep 2025 06:15:37 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.7.2 https://cloud.linh.pro/duankhudothi/2025/08/duankhudothi.svg Nuôi trồng thủy sản – Duankhudothi.com https://duankhudothi.com 32 32 Phát triển kinh tế biển bền vững: Nuôi trồng, khai thác hải sản và giải pháp cho tương lai https://duankhudothi.com/phat-trien-kinh-te-bien-ben-vung-nuoi-trong-khai-thac-hai-san-va-giai-phap-cho-tuong-lai/ Tue, 23 Sep 2025 06:15:32 +0000 https://duankhudothi.com/phat-trien-kinh-te-bien-ben-vung-nuoi-trong-khai-thac-hai-san-va-giai-phap-cho-tuong-lai/

Kinh tế biển đang ngày càng trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam, với mục tiêu khai thác tiềm năng lớn của đất nước. Kinh tế biển bao gồm toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển, trong đó nuôi trồng và khai thác hải sản được xác định là động lực phát triển.

Mô hình nuôi cá bớp bằng lồng HDPE ở vùng biển hở ở tỉnh Khánh Hòa mang lại hiệu quả vượt trội. Ảnh: KS.
Mô hình nuôi cá bớp bằng lồng HDPE ở vùng biển hở ở tỉnh Khánh Hòa mang lại hiệu quả vượt trội. Ảnh: KS.

Toàn bộ các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển đã được các nhà khoa học thống nhất bao gồm: đánh bắt và nuôi trồng thủy – hải sản; kinh tế hàng hải; khai thác dầu khí ngoài khơi; khai thác khoáng sản; năng lượng tái tạo; du lịch biển; kinh tế đảo và làm muối. Vấn đề phát triển bền vững nhằm đạt được tăng trưởng kinh tế đồng thời giảm các tác động tiêu cực đến môi trường đã được đặt ra.

Hướng thủy sản trở thành ngành kinh tế thương mại hiện đại, bền vững, là trung tâm chế biến thủy sản sâu, thuộc nhóm ba nước sản xuất và xuất khẩu thủy sản dẫn đầu thế giới. (Ảnh:St)
Hướng thủy sản trở thành ngành kinh tế thương mại hiện đại, bền vững, là trung tâm chế biến thủy sản sâu, thuộc nhóm ba nước sản xuất và xuất khẩu thủy sản dẫn đầu thế giới. (Ảnh:St)

Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 139/2024/QH15 về Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Chính phủ cũng đã ban hành Nghị quyết số 37/NQ-CP về Kế hoạch thực hiện Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021-2030. Quan điểm bao trùm là sử dụng tài nguyên một cách có trách nhiệm, chuyển đổi sang nền kinh tế sử dụng tài nguyên hiệu quả, ít carbon. Duy trì tài sản tài nguyên thiên nhiên hướng tới bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái, đa dạng sinh học và vốn tự nhiên.

Thực trạng động lực phát triển kinh tế biển cho thấy nuôi trồng và khai thác hải sản là động lực quan trọng. Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km, diện tích mặt biển 1 triệu km2 và hơn 4.000 đảo, quần đảo với hơn 12.000 loài sinh vật biển. Thủy sản biển cùng với lợ và ngọt, năm 2024 đạt sản lượng trên 9,6 triệu tấn; trong đó, nuôi trồng 5,8 triệu tấn (hơn 60%) thuộc TOP 4 quốc gia trên thế giới; xuất khẩu 10,07 tỷ USD đến hơn 170 quốc gia và vùng lãnh thổ, thuộc TOP 3 thế giới.

Tuy nhiên, nguồn lợi hải sản đang suy giảm, đặc biệt vùng biển ven bờ. Từ năm 2027 đến nay, EU đã cảnh báo ‘thẻ vàng’ IUU về khai thác vi phạm biển nước ngoài; quản lý, giám sát đội tàu; truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Chiến lược phát triển thủy sản trên biển đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, với mục tiêu chung đến năm 2030: Phát triển thủy sản thành ngành kinh tế quan trọng của quốc gia, sản xuất hàng hóa lớn gắn với công nghiệp hóa – hiện đại hóa; có thương hiệu uy tín, khả năng cạnh tranh và hội nhập quốc tế; góp phần giữ vững độc lập, chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.

Tầm nhìn đến năm 2045: Thủy sản là ngành kinh tế thương mại hiện đại, bền vững, có trình độ quản lý, khoa học công nghệ tiên tiến; là trung tâm chế biến thủy sản sâu, thuộc nhóm ba nước sản xuất và xuất khẩu thủy sản dẫn đầu thế giới; giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu các ngành kinh tế nông nghiệp và kinh tế biển.

Định hướng và giải pháp thời gian tới bao gồm nuôi trồng thủy sản biển, phát triển nuôi các đối tượng chủ lực và các loài có giá trị kinh tế gắn bảo vệ môi trường sinh thái. Sản xuất giống chất lượng cao, ưu tiên phát triển giống các đối tượng chủ lực, các loài mới có tiềm năng. Phát triển nuôi trồng vi tảo, rong biển phục vụ nhu cầu thực phẩm và cung cấp nguyên liệu cho các ngành kinh tế khác.

Về khai thác, tập trung phát triển khai thác hải sản vùng khơi, giảm dần cường lực khai thác đảm bảo phù hợp với trữ lượng nguồn lợi. Tổ chức lại hoạt động khai thác hải sản vùng lộng, ven bờ, phát triển nuôi trồng gắn với du lịch sinh thái, nghề cá giải trí.

Tuân thủ các quy tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm, chống khai thác IUU. Giảm thiểu, tiến tới chấm dứt các nghề khai thác có tính hủy diệt nguồn lợi. Áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến, cơ giới hoá, hiện đại hoá tàu cá; giảm tổn thất sau thu hoạch đến năm 2030 dưới 10%.

]]>
Ấn Độ phát triển công nghệ ươm giống cá khế vây vàng nuôi biển thương mại https://duankhudothi.com/an-do-phat-trien-cong-nghe-uom-giong-ca-khe-vay-vang-nuoi-bien-thuong-mai/ Sat, 09 Aug 2025 10:42:30 +0000 https://duankhudothi.com/an-do-phat-trien-cong-nghe-uom-giong-ca-khe-vay-vang-nuoi-bien-thuong-mai/

Công nghệ ươm giống cá khế vây vàng do Viện Nghiên cứu nghề cá biển Ấn Độ (CMFRI) phát triển đã đạt được một cột mốc quan trọng khi được ghi nhận là một trong năm sáng kiến thủy sản tiêu biểu quốc gia. Sự kiện này không chỉ đánh dấu một bước tiến đáng kể trong lĩnh vực nuôi biển mà còn mở ra nhiều triển vọng cho việc phát triển ngành thủy sản ở Ấn Độ và trên thế giới.

Cá khế vây vàng là một loài cá có tốc độ tăng trưởng nhanh, giá trị kinh tế cao và khả năng thích nghi vượt trội. Viện CMFRI đã thành công trong việc cho cá khế vây vàng sinh sản trong điều kiện nuôi nhốt, điều này không chỉ thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về kỹ thuật ươm giống mà còn đánh dấu một mốc quan trọng trong nghiên cứu và phát triển nuôi biển. Thành tựu này là kết quả của quá trình nghiên cứu và phát triển không ngừng nghỉ của các nhà khoa học tại Viện.

Một trong những đặc điểm nổi bật của cá khế vây vàng là tốc độ tăng trưởng nhanh. Khi được nuôi theo quy trình chuẩn, cá có thể đạt trọng lượng 500g sau 5 tháng và khoảng 1kg sau 8 tháng. Khả năng tăng trưởng vượt trội này không chỉ giúp rút ngắn thời gian nuôi mà còn tăng sản lượng và hiệu quả kinh tế cho người nuôi. Hơn nữa, loài cá này cũng có khả năng thích ứng tốt với nhiều mô hình nuôi khác nhau, từ nuôi trong ao, lồng đến hệ thống nuôi trồng thủy sản tích hợp. Điều này mang lại tiềm năng lớn cho phát triển nuôi biển thương mại, mở ra cơ hội cho nhiều hộ gia đình và doanh nghiệp tham gia vào ngành này.

Về mặt kinh tế, cá khế vây vàng có giá bán dao động từ 400-700 Rupee/kg, tùy thuộc vào thị trường và chất lượng sản phẩm. Với thị trường tiêu thụ rộng mở, không chỉ ở Ấn Độ mà còn trên toàn thế giới, loài cá này hứa hẹn mang lại lợi nhuận cao cho người nuôi. Điều này không chỉ góp phần nâng cao thu nhập cho người dân mà còn thúc đẩy sự phát triển của ngành thủy sản.

Thành tựu của Viện CMFRI không chỉ dừng lại ở việc phát triển công nghệ ươm giống cá khế vây vàng. Hơn hết, nó còn góp phần quan trọng vào việc nâng cao sản lượng loài cá có giá trị kinh tế cao, thúc đẩy an ninh lương thực và phát triển kinh tế biển bền vững cho quốc gia. Trong bối cảnh thế giới đang đối mặt với nhiều thách thức về an ninh lương thực và biến đổi khí hậu, việc phát triển nuôi biển bền vững được xem là một giải pháp quan trọng.

Trong tương lai, Viện CMFRI hy vọng rằng công nghệ này sẽ được nhân rộng và áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực nuôi biển. Điều này không chỉ đòi hỏi sự hỗ trợ từ chính phủ mà còn cần sự tham gia tích cực của các doanh nghiệp và hộ gia đình. Thông qua việc nhân rộng công nghệ ươm giống cá khế vây vàng, Ấn Độ có thể tiếp tục khẳng định vị thế là một quốc gia dẫn đầu trong lĩnh vực nuôi biển, đồng thời góp phần vào việc đảm bảo an ninh lương thực và phát triển kinh tế biển bền vững cho thế hệ tương lai.

]]>