Hạ tầng số – Duankhudothi.com https://duankhudothi.com Cập nhật thông tin mới nhất về các dự án khu đô thị, bất động sản, quy hoạch, thiết kế và chính sách. Sat, 20 Sep 2025 05:30:21 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.7.2 https://cloud.linh.pro/duankhudothi/2025/08/duankhudothi.svg Hạ tầng số – Duankhudothi.com https://duankhudothi.com 32 32 Chuyển đổi số đô thị: Tận dụng công nghệ để minh bạch và tiết kiệm nguồn lực https://duankhudothi.com/chuyen-doi-so-do-thi-tan-dung-cong-nghe-de-minh-bach-va-tiet-kiem-nguon-luc/ Sat, 20 Sep 2025 05:30:15 +0000 https://duankhudothi.com/chuyen-doi-so-do-thi-tan-dung-cong-nghe-de-minh-bach-va-tiet-kiem-nguon-luc/

Trong giai đoạn 2025-2035, đô thị thông minh sẽ cần một hạ tầng số hiện đại và tinh vi để giúp dữ liệu công trở thành công cụ ra quyết định và vận hành đô thị một cách minh bạch, theo thời gian thực và tiết kiệm nguồn lực. Công nghệ blockchain đang ngày càng chứng minh vai trò quan trọng của mình trong việc xây dựng đô thị vận hành dựa trên dữ liệu mở.

Những startup ứng dụng công nghệ số, số hóa dữ liệu góp phần quan trọng trong việc hỗ trợ xây dựng đô thị thông minh. Ảnh: PHAN VINH
Những startup ứng dụng công nghệ số, số hóa dữ liệu góp phần quan trọng trong việc hỗ trợ xây dựng đô thị thông minh. Ảnh: PHAN VINH

Công nghệ blockchain được xem là một hạ tầng mềm quan trọng cho đô thị thế hệ mới, tương đương với hạ tầng cứng như điện, nước và giao thông. Theo ông Trần Huyền Dinh, Chủ nhiệm Ủy ban Ứng dụng Fintech của Hiệp hội Blockchain Việt Nam, giá trị cốt lõi của công nghệ blockchain nằm ở khả năng lập trình hóa quy trình, phi vật chất hóa dữ liệu và phân tán trách nhiệm vận hành dựa trên một chuẩn mực kiểm chứng công khai.

Ký kết 19 biên bản ghi nhớ hợp tác tại SURF 2025
Ký kết 19 biên bản ghi nhớ hợp tác tại SURF 2025

Khi dữ liệu công được ghi nhận trên một blockchain mở, mọi thao tác chỉnh sửa, can thiệp hay sai lệch đều có thể bị phát hiện ngay lập tức. Điều này giúp làm trong sạch hóa quá trình vận hành công và giảm thiểu các tiêu cực. Nhiều doanh nghiệp công nghệ đã bắt đầu ứng dụng blockchain tại các địa phương, từ việc xây dựng sàn giao dịch tài sản số đến phát triển các nền tảng thanh toán DeFi và hệ thống blockchain nội bộ hỗ trợ truy xuất dữ liệu kim hoàn, tài sản đô thị và tín nhiệm tài chính công.

Đà Nẵng chuyển mình thành đô thị số từ những định hướng liên quan đến dữ liệu và nền tảng số. Ảnh: XUÂN SƠN
Đà Nẵng chuyển mình thành đô thị số từ những định hướng liên quan đến dữ liệu và nền tảng số. Ảnh: XUÂN SƠN

Để xây dựng đô thị thông minh, việc thiết kế lại cấu trúc dữ liệu nền là hết sức quan trọng. Các thành phố như Singapore, Hàn Quốc, Thụy Sĩ và Hồng Kông đã bắt đầu quá trình chuyển đổi số bằng cách chuẩn hóa dữ liệu công, lựa chọn công nghệ phù hợp và tạo môi trường thử nghiệm (sandbox) để kiểm tra thực tế từng ứng dụng trước khi nhân rộng.

Công nghệ blockchain giúp khôi phục niềm tin giữa người dân và chính quyền thông qua khả năng xác minh công khai mọi quyết định của Nhà nước. Hệ thống sổ cái phân tán (DLT) tạo ra một bản ghi chính thức và chống lại việc sửa lại quá khứ, giúp tăng cường tính minh bạch trong quản trị đô thị. Một thành phố minh bạch không phải là nơi không có sai sót, mà là nơi mà mọi quyết định, đúng hay sai, đều để lại dấu vết và có thể được kiểm tra, phản biện và đánh giá dựa trên dữ liệu thật.

Hiện tại, một số công ty đang tập trung xây dựng các bộ công cụ để hỗ trợ chính quyền địa phương triển khai hệ thống truy xuất công khai trên dữ liệu ngân sách, giấy phép xây dựng và đất công thông qua giao diện trực tuyến. Với sự hỗ trợ của công nghệ blockchain, đô thị thông minh trong tương lai sẽ trở thành hiện thực, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân và tạo ra một môi trường sống minh bạch, hiệu quả.

Việc áp dụng công nghệ blockchain trong xây dựng đô thị thông minh không chỉ giới hạn ở một vài khía cạnh cụ thể mà còn có thể được mở rộng ra nhiều lĩnh vực khác. Bằng cách tận dụng các tính năng của công nghệ này, các thành phố có thể không chỉ tăng cường tính minh bạch mà còn có thể tạo ra các mô hình kinh tế và xã hội mới, đem lại lợi ích cho cả người dân và chính quyền.

Công nghệ blockchain đang mở ra những cơ hội mới cho việc xây dựng và phát triển đô thị thông minh. Tuy nhiên, để thành công, các thành phố cần xây dựng một chiến lược toàn diện, bao gồm việc chuẩn bị hạ tầng, nâng cao nhận thức về công nghệ và đảm bảo sự tham gia của tất cả các bên liên quan.

]]>
Hà Nội đẩy mạnh xây dựng chính quyền số trong năm 2025 https://duankhudothi.com/ha-noi-day-manh-xay-dung-chinh-quyen-so-trong-nam-2025/ Sun, 07 Sep 2025 00:45:17 +0000 https://duankhudothi.com/ha-noi-day-manh-xay-dung-chinh-quyen-so-trong-nam-2025/

Thành phố Hà Nội đang tích cực triển khai các giải pháp nhằm đẩy mạnh chuyển đổi số trên nhiều lĩnh vực, bao gồm xây dựng chính quyền số, phát triển kinh tế số, xã hội số và hiện đại hóa phương thức phục vụ. Sau một thời gian ngắn, Hà Nội đã đạt được nhiều kết quả đáng kể trong việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Ngay từ đầu năm 2025, UBND TP. Hà Nội đã có chỉ đạo quyết liệt về việc tổ chức thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW và Quyết định số 204-QĐ/TW của Ban Bí thư về chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng. Thành phố tập trung vào các trụ cột quan trọng như hoàn thiện thể chế, chính sách, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, chính quyền số, kinh tế số và xã hội số.

Về xây dựng chính quyền số, Hà Nội đã triển khai hiệu quả 5 trụ cột chính: Hạ tầng số, nền tảng và hệ thống số, dữ liệu số, ứng dụng dịch vụ số và đảm bảo an toàn thông tin mạng. Thành phố đã chuẩn hóa, làm sạch và liên thông dữ liệu trong các lĩnh vực then chốt như người có công, an sinh xã hội, hộ tịch, bảo trợ xã hội và trẻ em.

Trong lĩnh vực giáo dục, Hà Nội đã thí điểm học bạ số cho toàn bộ học sinh trung học cơ sở và trung tâm giáo dục thường xuyên từ học kỳ II năm học 2024-2025. Lĩnh vực giao thông cũng chứng kiến những bước đột phá khi Thành phố tiên phong ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong điều hành, tối ưu hóa đèn tín hiệu và xử lý vi phạm giao thông.

Trong hệ thống các cơ quan Đảng, đoàn thể Thành phố, chuyển đổi số được Thành ủy Hà Nội chỉ đạo quyết liệt với nhiều sáng kiến đồng bộ. Một dấu ấn nổi bật là việc tích hợp thành công 4 thủ tục hành chính Đảng lên Cổng Dịch vụ công quốc gia.

Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Nguyễn Văn Phong nhấn mạnh: “Dữ liệu số là tài sản, là nền tảng cho phát triển và quản trị thông minh. Người đứng đầu các đơn vị phải trở thành hạt nhân, người truyền cảm hứng và dẫn dắt công cuộc chuyển đổi số”.

Hà Nội cũng là địa phương đi đầu trong thực hiện Đề án 06 về phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia. Thành phố triển khai hiệu quả các nền tảng như: Ứng dụng Công dân Thủ đô số – iHanoi, sổ sức khỏe điện tử, cấp lý lịch tư pháp trên VNeID…

Tới đây, Hà Nội sẽ tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng chính quyền số hiện đại, phục vụ toàn diện cho người dân và doanh nghiệp.

]]>
Bộ KH&CN nỗ lực xây dựng hạ tầng推动 đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số https://duankhudothi.com/bo-khcn-no-luc-xay-dung-ha-tang%e6%8e%a8%e5%8a%a8-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so/ Thu, 04 Sep 2025 22:01:21 +0000 https://duankhudothi.com/bo-khcn-no-luc-xay-dung-ha-tang%e6%8e%a8%e5%8a%a8-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so/

Hoàn thiện thể chế là yêu cầu cấp thiết và điều kiện tiên quyết để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực trung tâm cho tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực quản trị quốc gia. Bộ Khoa học và Công nghệ đang nỗ lực hoàn thiện thể chế để khoa học ‘ra trận’, công nghệ ‘ra thị trường’, và dữ liệu trở thành tài sản chiến lược.

Hạ tầng số được xác định là nền tảng chiến lược của quốc gia số, tương đương với hạ tầng giao thông và điện lực. Việc phổ cập hạ tầng số với băng thông siêu rộng và dung lượng siêu lớn là điều kiện cần thiết cho sự phát triển của nền kinh tế số. Phủ sóng 5G sâu rộng trên toàn quốc là nhiệm vụ cấp bách trong thời gian tới.

Chuyển đổi số là quá trình số hóa toàn diện, ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo để xử lý dữ liệu số, với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia số. Chuyển đổi số cần tạo ra mức tăng trưởng kinh tế tương ứng từ 1-1,5%. Quản lý khoa học theo kết quả đầu ra là hướng đi mới trong quản lý khoa học và công nghệ. Nhà nước chi 1 đồng cho nghiên cứu thì kết quả nghiên cứu đó phải tạo ra ít nhất 10 đồng doanh thu mới.

Khoa học và công nghệ phải hướng tới mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân. Đổi mới sáng tạo là con đường để Việt Nam đưa khoa học và công nghệ ứng dụng vào cuộc sống. Đổi mới sáng tạo phải giúp Việt Nam tăng trưởng thêm 3% GDP mỗi năm.

Phát triển tài sản trí tuệ và chuẩn hóa tiêu chuẩn quốc gia là hai nhiệm vụ quan trọng trong thời gian tới. Chuyển dịch quan trọng nhất trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ là chuyển từ bảo vệ quyền sang tài sản hóa, thương mại hóa và thị trường hóa các kết quả nghiên cứu. Bộ Khoa học và Công nghệ đang đẩy mạnh hoàn thiện khung pháp lý cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Từ nay đến cuối năm 2025, Bộ sẽ phải hoàn thành và thông qua 4 luật, bao gồm 1 luật mới và 3 luật sửa đổi. Thể chế đổi mới sẽ gắn nghiên cứu với thị trường và quốc tế. Luật Khoa học và Công nghệ sửa đổi sẽ tạo ra thông thoáng cho hoạt động nghiên cứu với mục tiêu là tạo ra nhiều kết quả nghiên cứu có giá trị.

Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi sẽ biến các kết quả nghiên cứu này thành tài sản trí tuệ để giao dịch được. Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh rằng bây giờ là lúc phải hành động quyết liệt và hiệu quả, làm thật nhiều, làm những việc lớn, hướng đến kết quả cuối cùng là tăng trưởng kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân, nâng cao năng lực quản trị quốc gia.

]]>
Xây dựng Quốc hội số để hiện đại hóa hoạt động lập pháp https://duankhudothi.com/xay-dung-quoc-hoi-so-de-hien-dai-hoa-hoat-dong-lap-phap/ Wed, 03 Sep 2025 12:44:41 +0000 https://duankhudothi.com/xay-dung-quoc-hoi-so-de-hien-dai-hoa-hoat-dong-lap-phap/

Chuyển đổi số trong hoạt động của Quốc hội đang trở thành một yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ. Quốc hội Việt Nam, với vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đang đối mặt với thách thức đổi mới toàn diện phương thức hoạt động để đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong các lĩnh vực lập pháp, giám sát và quyết định vấn đề quan trọng của đất nước.

Đại biểu tham dự Đại hội. Ảnh: Hồ Long
Đại biểu tham dự Đại hội. Ảnh: Hồ Long

Thực trạng cho thấy mô hình làm việc truyền thống hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là tính thủ công và phân tán dữ liệu, thiếu kết nối. Điều này có thể dẫn đến nguy cơ mất tính thời sự trong việc ra quyết định, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của Quốc hội. Để giải quyết vấn đề này, việc tăng cường tuyên truyền và nâng cao nhận thức về vai trò quan trọng của chuyển đổi số trong vận hành hoạt động của Quốc hội là hết sức cần thiết. Đồng thời, cần định hình lộ trình và giải pháp cụ thể với sự chỉ đạo chiến lược, quyết liệt của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và Ban Chỉ đạo Chuyển đổi số của Quốc hội.

Bí thư Chi bộ, Vụ trưởng Vụ Chuyển đổi số Bùi Danh Tuyên trình bày tham luận tại Đại hội. Ảnh: Phạm Thắng
Bí thư Chi bộ, Vụ trưởng Vụ Chuyển đổi số Bùi Danh Tuyên trình bày tham luận tại Đại hội. Ảnh: Phạm Thắng

Theo chỉ đạo của Chủ tịch Quốc hội, Ban Chỉ đạo chuyển đổi số của Quốc hội đã được thành lập vào ngày 15/11/2024. Kể từ khi thành lập, Ban Chỉ đạo đã đạt được những kết quả tích cực ban đầu. Đáng chú ý là vào ngày 13/5/2025, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 1637/NQ-UBTVQH15, phê duyệt Đề án Chuyển đổi số của Quốc hội giai đoạn 2025-2030. Cùng với đó, Hệ thống App Quốc hội 2.0 đã được xây dựng, cho phép đại biểu Quốc hội sử dụng trên các thiết bị di động để phục vụ hoạt động. Hệ thống này đã được nâng cấp với nền tảng số toàn diện, thiết kế chuyên biệt, hỗ trợ rất hiệu quả hoạt động của đại biểu trong việc quản lý tài liệu và tra cứu thông tin.

Đại biểu tham dự Đại hội. Ảnh: Hồ Long
Đại biểu tham dự Đại hội. Ảnh: Hồ Long

Bên cạnh Hệ thống App Quốc hội 2.0, còn có các hệ thống khác như Hệ thống Gỡ băng ghi âm, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động của Quốc hội, Hệ thống Quản lý văn bản và điều hành điện tử. Tất cả các hệ thống này đều mang lại hiệu quả vượt trội với tốc độ xử lý và độ chính xác cao, đóng góp vào sự hiện đại hóa hoạt động của Quốc hội.

Đại biểu tham dự Đại hội. Ảnh: Hồ Long
Đại biểu tham dự Đại hội. Ảnh: Hồ Long

Để thực hiện thành công các nhiệm vụ đã đề ra, việc tập trung vào một số giải pháp trọng tâm trong tổ chức và triển khai là rất quan trọng. Điều này bao gồm xây dựng nhận thức và văn hóa số, hoàn thiện hạ tầng và nền tảng số, số hóa quy trình và tự động hóa, cũng như tăng cường tương tác và minh bạch với cử tri. Việc áp dụng các giải pháp này không chỉ giúp hiện đại hóa hoạt động của Quốc hội mà còn góp phần xây dựng một “Quốc hội số” minh bạch, hiện đại.

Với sự chỉ đạo chiến lược của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và quyết tâm chính trị cao, việc xây dựng một “Quốc hội số” đáp ứng kỳ vọng của nhân dân và xu thế phát triển không chỉ là mục tiêu mà còn là bước tiến quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Điều này cũng khẳng định cam kết của Quốc hội Việt Nam trong việc tận dụng công nghệ để phục vụ tốt hơn cho người dân và đất nước.

]]>
Quảng Ngãi bứt phá với hạ tầng số và dịch vụ công trực tuyến toàn trình https://duankhudothi.com/quang-ngai-but-pha-voi-ha-tang-so-va-dich-vu-cong-truc-tuyen-toan-trinh/ Mon, 01 Sep 2025 05:44:54 +0000 https://duankhudothi.com/quang-ngai-but-pha-voi-ha-tang-so-va-dich-vu-cong-truc-tuyen-toan-trinh/

Trong bối cảnh hiện nay, việc đầu tư và hoàn thiện hạ tầng cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là một trong những ưu tiên hàng đầu giúp các địa phương bứt phá và phát triển nhanh, bền vững. Tỉnh Quảng Ngãi cũng không nằm ngoài xu hướng này và đã đang đẩy mạnh việc hoàn thiện hạ tầng số nhằm mang lại hiệu quả trong công tác quản lý, điều hành và phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Tỉnh Quảng Ngãi đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong việc phát triển hạ tầng số. Hiện nay, toàn bộ 100% thôn, làng trên địa bàn tỉnh đã được phủ sóng di động 3G, 4G. Mạng 5G đã được triển khai tại các khu đô thị, công nghiệp với 58 trạm BTS. Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng cáp quang đạt 73%, trong khi 83% dân số trưởng thành sở hữu điện thoại thông minh. Đây là những con số ấn tượng cho thấy sự nỗ lực của tỉnh trong việc xây dựng nền tảng hạ tầng số vững chắc.

Trung tâm dữ liệu tỉnh Quảng Ngãi được đầu tư với dung lượng lưu trữ lên đến 170 TB, vận hành 24 hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu, kết nối gần 60 ứng dụng. Hệ thống quản lý văn bản điện tử đã được triển khai tới 1.523 cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh. Tỷ lệ sử dụng văn bản điện tử ở cấp sở, ngành đạt hơn 99%. Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính vận hành ổn định, cung cấp 732 dịch vụ công trực tuyến toàn trình, số hóa hồ sơ và kết quả đạt trên 99% ở cấp tỉnh. Những thành tựu này thể hiện sự quyết tâm của tỉnh trong việc tạo ra một môi trường số hiện đại và hiệu quả.

Bên cạnh đó, công tác đảm bảo an toàn, an ninh mạng cũng được tỉnh Quảng Ngãi chú trọng. Các hệ thống SOC, phòng chống mã độc đã được triển khai đồng bộ, giúp kịp thời phát hiện và xử lý hơn 4.500 cảnh báo nguy cơ mất an toàn thông tin. Điều này cho thấy tỉnh đã không chỉ tập trung vào phát triển hạ tầng số mà còn quan tâm đến việc bảo vệ thông tin và đảm bảo an ninh mạng.

Những nỗ lực của tỉnh Quảng Ngãi trong việc hoàn thiện hạ tầng số và đẩy mạnh chuyển đổi số đã góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, điều hành và phục vụ người dân, doanh nghiệp. Điều này cũng tạo tiền đề cho sự phát triển nhanh và bền vững của địa phương trong tương lai. Với những kết quả tích cực đã đạt được, tỉnh Quảng Ngãi tiếp tục là một điển hình trong việc hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi số và phát triển hạ tầng số ở Việt Nam.

]]>
Chuyển đổi số khu vực công: Thiếu nhân lực, hạ tầng và bảo mật mạng https://duankhudothi.com/chuyen-doi-so-khu-vuc-cong-thieu-nhan-luc-ha-tang-va-bao-mat-mang/ Fri, 29 Aug 2025 10:45:33 +0000 https://duankhudothi.com/chuyen-doi-so-khu-vuc-cong-thieu-nhan-luc-ha-tang-va-bao-mat-mang/

Chuyển đổi số trong khu vực công tại Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức và rào cản. Theo ông Nguyễn Hữu Thái Hòa, Phó Viện trưởng Viện Trí Việt IVM – VUSTA, Chủ tịch VDIC, Trung tâm Thông tin Truyền thông số Việt Nam của Hội Truyền Thông Số, việc chuyển đổi số chỉ được nhìn nhận như một nhiệm vụ công nghệ đơn thuần mà không gắn với cải cách thể chế, quản trị và đo lường hiệu quả sử dụng nguồn lực công thì rất khó tạo ra đột phá thực chất.

Một trong những rào cản lớn nhất là hạ tầng công nghệ tại các cơ quan Nhà nước còn rất lạc hậu, thiếu đồng bộ và khó tích hợp. Nhiều nơi vẫn sử dụng hệ thống lưu trữ dữ liệu rời rạc, không tương thích, gây cản trở việc kết nối, chia sẻ thông tin giữa các bộ, ngành, địa phương. Ông Hòa cũng chỉ ra rằng không có một kiến trúc công nghệ thống nhất, việc kết nối dữ liệu dân cư, thuế, y tế, tài chính… trở thành bài toán nan giải, dù các hệ thống đó đã được đầu tư lớn trong nhiều năm.

Tổng mức đầu tư cho các chương trình chuyển đổi số khu vực công bao gồm hạ tầng dữ liệu dân cư, căn cước công dân gắn chip, Cổng dịch vụ công quốc gia, nền tảng số ngành dọc… đã vượt hàng nghìn tỷ đồng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy sự phân bổ ngân sách thiếu đồng đều giữa trung ương và địa phương, khiến các cấp cơ sở khó có khả năng triển khai đồng bộ.

Ông Hòa cũng nhấn mạnh rằng chuyển đổi số khu vực công còn đối mặt với bài toán nhân lực công nghệ cao. Các chuyên gia giỏi về trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng, phân tích dữ liệu thường lựa chọn khu vực tư nhân hoặc các công ty công nghệ lớn do chính sách lương thưởng vượt trội. Trong khi đó, cán bộ, công chức tại nhiều cơ quan hành chính, đặc biệt ở tuyến huyện, xã thiếu kỹ năng số, thiếu cả động lực và tâm thế thích nghi với công nghệ mới.

Một thách thức khác là nguy cơ tấn công mạng ngày càng lớn khi dữ liệu nhạy cảm như thông tin công dân, tài chính, y tế… được số hóa và lưu trữ tập trung, nhưng lại thiếu lớp bảo vệ pháp lý và công nghệ tương xứng. Hệ thống pháp luật về bảo mật dữ liệu, an toàn thông tin, lưu trữ số… vẫn chưa bắt kịp tốc độ phát triển của công nghệ, gây ra khoảng trống trong việc xử lý sự cố và đảm bảo niềm tin số cho người dân.

Để tháo gỡ những nút thắt hiện nay, ông Hòa nêu 4 đề xuất: tăng ngân sách đầu tư hạ tầng số, phát triển nguồn nhân lực số cho khu vực công, khuyến khích doanh nghiệp công nghệ tham gia cung cấp giải pháp số cho khu vực công và xây dựng trung tâm giám sát an ninh mạng quốc gia, đồng thời ban hành khung pháp lý chặt chẽ về bảo mật dữ liệu, quyền riêng tư và lưu trữ số. Với những giải pháp này, kỳ vọng chuyển đổi số trong khu vực công tại Việt Nam sẽ đạt được những bước tiến đáng kể trong thời gian tới.

]]>
Bộ Khoa học và Công nghệ: 100% văn bản được ký số vào năm 2030 https://duankhudothi.com/bo-khoa-hoc-va-cong-nghe-100-van-ban-duoc-ky-so-vao-nam-2030/ Thu, 28 Aug 2025 13:15:10 +0000 https://duankhudothi.com/bo-khoa-hoc-va-cong-nghe-100-van-ban-duoc-ky-so-vao-nam-2030/

Trong bối cảnh hiện nay, việc xây dựng và phát triển hạ tầng số, dữ liệu số và công nghệ số đang trở thành một yếu tố quan trọng trong sự phát triển của đất nước. Trung tâm Công nghệ thông tin của Bộ Khoa học và Công nghệ đã và đang đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực này.

Cấp ủy Chi bộ Trung tâm Công nghệ thông tin nhiệm kỳ 2025 - 2030. Ảnh: TTTT
Cấp ủy Chi bộ Trung tâm Công nghệ thông tin nhiệm kỳ 2025 – 2030. Ảnh: TTTT

Với vai trò là hạt nhân về công nghệ thông tin, chuyển đổi số và an toàn thông tin mạng, Trung tâm đã tích cực triển khai các nhiệm vụ trong giai đoạn 2023-2024. Một trong những thành tựu nổi bật của Trung tâm là duy trì hoạt động ổn định hệ thống chính phủ điện tử của Bộ, với tỷ lệ văn bản ký số đạt 94,57% vào năm 2023. Hệ thống này cũng tiếp nhận và xử lý hơn 146.000 văn bản đến và hơn 130.000 công việc trong năm 2024.

Bên cạnh đó, Trung tâm cũng triển khai mô hình bảo vệ bốn lớp để đảm bảo năng lực phòng thủ số trước các nguy cơ tấn công mạng. Điều này cho thấy sự quan tâm và đầu tư của Trung tâm vào việc bảo vệ an toàn thông tin mạng.

Không chỉ tập trung vào công tác kỹ thuật, Trung tâm còn đóng vai trò chiến lược trong truyền thông chính sách số. Trung tâm đã đăng tải hơn 12.000 tin bài và sản xuất gần 400 sản phẩm đa phương tiện mỗi năm trên Cổng thông tin điện tử của Bộ. Hệ thống thông tin này đã truyền tải các chủ trương về chuyển đổi số, an toàn thông tin, dữ liệu số và 5G đến người dân, doanh nghiệp và địa phương.

Nhiệm kỳ 2025-2030, Chi bộ Trung tâm đặt mục tiêu trở thành đơn vị hạt nhân về hạ tầng số, dữ liệu số và công nghệ số, phục vụ công tác quản lý nhà nước và sự nghiệp khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia. Để đạt được mục tiêu này, Trung tâm sẽ hoàn thiện, nâng cấp các nền tảng công nghệ phục vụ điều hành, cải cách hành chính; phát triển hệ thống thông tin quản lý tích hợp, kết nối ba cấp chính quyền; phát triển dịch vụ công trực tuyến mức độ cao với tỷ lệ dịch vụ toàn trình đạt 100%.

Cụ thể, Chi bộ đề ra các mục tiêu: 100% văn bản được ký số; 95% văn bản trao đổi qua hệ thống điều hành điện tử; 100% cán bộ chuyên môn được đào tạo kỹ năng số hằng năm. Trung tâm cũng sẽ phát triển theo 5 trụ cột, bao gồm xây dựng nền tảng quản trị số của Bộ, quy hoạch và phát triển hạ tầng số theo mô hình cloud-first, phát triển hệ thống giải quyết thủ tục hành chính tích hợp đa kênh, phát triển kho dữ liệu số liên ngành và xây dựng Trung tâm điều hành an toàn, an ninh mạng.

Tại Đại hội Chi bộ nhiệm kỳ 2025-2030, tổ chức hôm 10/7 tại Hà Nội, ông Đỗ Công Anh, Bí thư Chi bộ, Giám đốc Trung tâm cho biết Bộ Khoa học và Công nghệ luôn thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin, cải cách hành chính, hiện đại hóa phương thức quản lý nhà nước. Qua đó, có thể thấy được sự quyết tâm và nỗ lực của Trung tâm trong việc xây dựng và phát triển hạ tầng số, dữ liệu số và công nghệ số trong thời gian tới.

Trước những mục tiêu và định hướng đã được đề ra, có thể thấy rằng Trung tâm Công nghệ thông tin của Bộ Khoa học và Công nghệ đang có những bước đi đúng đắn và quyết tâm trong việc xây dựng nền tảng công nghệ thông tin vững chắc cho sự phát triển của đất nước.

]]>
Việt Nam đẩy mạnh phát triển thương mại điện tử với mục tiêu 30 tỷ USD vào năm 2030 https://duankhudothi.com/viet-nam-day-manh-phat-trien-thuong-mai-dien-tu-voi-muc-tieu-30-ty-usd-vao-nam-2030/ Thu, 28 Aug 2025 09:34:19 +0000 https://duankhudothi.com/viet-nam-day-manh-phat-trien-thuong-mai-dien-tu-voi-muc-tieu-30-ty-usd-vao-nam-2030/

Thương mại điện tử tại Việt Nam đang trải qua một giai đoạn phát triển ấn tượng, với tốc độ tăng trưởng đáng kể trong giai đoạn 2020-2025. Dự kiến, quy mô của lĩnh vực này sẽ đạt 30 tỷ USD vào năm 2025. Trên cơ sở nền tảng vững chắc này, mục tiêu đặt ra cho thương mại điện tử Việt Nam đến năm 2030 là đạt quy mô 30 tỷ USD, chiếm khoảng 15% tổng mức bán lẻ hàng hóa.

Việc đầu tư, nâng cấp các trung tâm dữ liệu lớn, nền tảng thanh toán điện tử và các sàn TMĐT xuyên biên giới cũng nằm trong lộ trình phát triển đến năm 2030. Đồ họa: TT
Việc đầu tư, nâng cấp các trung tâm dữ liệu lớn, nền tảng thanh toán điện tử và các sàn TMĐT xuyên biên giới cũng nằm trong lộ trình phát triển đến năm 2030. Đồ họa: TT

Trong giai đoạn 2021-2025, thương mại điện tử đã chứng kiến sự tăng trưởng mạnh mẽ nhờ vào việc đầu tư có kế hoạch về hạ tầng và khung pháp lý. Bộ Công Thương đã chủ trì xây dựng nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng, đặc biệt là các nghị định liên quan đến thương mại điện tử, ngoại thương, thị trường và các mô hình kinh doanh số. Cùng với đó, việc xây dựng Luật Thương mại điện tử và nghiên cứu sửa đổi Luật Thương mại đã đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, thúc đẩy tính minh bạch, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên không gian số.

Song song với việc hoàn thiện thể chế, hạ tầng thương mại và logistics cũng được chú trọng đầu tư. Tính đến năm 2023, Việt Nam đã có hơn 30.000 kho bãi và 6 trung tâm logistics cấp quốc gia. Nhờ đó, chỉ số hiệu quả logistics của Việt Nam đã tăng 10 bậc, từ vị trí 53 lên vị trí 43. Hạ tầng số phục vụ thương mại điện tử cũng được đẩy mạnh. Bộ Công Thương hiện cung cấp 267 dịch vụ công trực tuyến, trong đó 100% thủ tục hành chính được thực hiện ở mức độ 3 và 4 trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, giúp doanh nghiệp thương mại điện tử tiết kiệm thời gian và chi phí vận hành.

Một yếu tố then chốt góp phần mở rộng không gian thị trường cho hàng hóa và dịch vụ thương mại điện tử chính là việc Việt Nam tích cực ký kết và thực thi các hiệp định thương mại tự do (FTA). Trong giai đoạn 2020-2025, Việt Nam đã ký thêm 4 FTA, nâng tổng số lên 17 hiệp định với 65 đối tác toàn cầu. Việt Nam kỳ vọng những hiệp định này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ trên thị trường quốc tế.

Tuy nhiên, sự phát triển nhanh của thương mại điện tử cũng đặt ra nhiều thách thức cho công tác quản lý thị trường và bảo vệ người tiêu dùng. Trong giai đoạn 2021-2025, gần 290.000 vụ việc đã được kiểm tra, trong đó gần 200.000 vụ vi phạm đã bị cơ quan chức năng xử lý. Để giải quyết những thách thức này, Bộ Công Thương đã và đang tiếp tục tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra và giám sát thị trường.

Để thực hiện các mục tiêu đến năm 2030, Bộ Công Thương tập trung hoàn thiện Luật Thương mại điện tử; tiếp tục ban hành các chính sách liên quan đến quản lý dữ liệu, bảo vệ người tiêu dùng số, logistics và công nghệ thanh toán. Bên cạnh đó, mở rộng hệ thống logistics phục vụ thương mại điện tử, nâng cao năng lực kho vận, giao hàng nhanh và hiệu quả. Việc đầu tư, nâng cấp các trung tâm dữ liệu lớn, nền tảng thanh toán điện tử và các sàn giao dịch xuyên biên giới cũng nằm trong lộ trình phát triển. Kỳ vọng vào sự hỗ trợ mạnh mẽ từ chính sách, hạ tầng và nguồn lực, thương mại điện tử sẽ đóng vai trò trung tâm trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia, góp phần đưa Việt Nam trở thành nền kinh tế số hàng đầu khu vực.

]]>
Hà Tĩnh đẩy mạnh chuyển đổi số với đầu tư đồng bộ hạ tầng kỹ thuật https://duankhudothi.com/ha-tinh-day-manh-chuyen-doi-so-voi-dau-tu-dong-bo-ha-tang-ky-thuat/ Thu, 28 Aug 2025 09:17:33 +0000 https://duankhudothi.com/ha-tinh-day-manh-chuyen-doi-so-voi-dau-tu-dong-bo-ha-tang-ky-thuat/

Trong quá trình chuyển đổi số, tỉnh Hà Tĩnh đã trải qua những bước chuyển biến rõ nét và tích cực, với sự tham gia mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị. Hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho quá trình này đang ngày càng được đồng bộ hóa, tạo điều kiện cho sự hình thành của chính quyền số, kinh tế số và xã hội số.

Ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu về chuyển đổi số trong phát triển sản xuất.
Ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu về chuyển đổi số trong phát triển sản xuất.

Tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành nhiều văn bản quan trọng nhằm lãnh đạo và chỉ đạo việc triển khai công tác chuyển đổi số. Các sở, ban, ngành và địa phương đã tích cực chỉ đạo và triển khai các nội dung liên quan đến phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đến nay, công tác chuyển đổi số tại Hà Tĩnh đã đạt được những kết quả tích cực bước đầu.

Đẩy mạnh kết nối các cơ sở dữ liệu chuyên dùng của các ngành, lĩnh vực.
Đẩy mạnh kết nối các cơ sở dữ liệu chuyên dùng của các ngành, lĩnh vực.

Cụ thể, 24 trên tổng số 26 chỉ tiêu theo Nghị quyết 05-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về tập trung lãnh đạo, chỉ đạo chuyển đổi số tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 đã hoàn thành. Về nhân lực, tỉnh hiện có 612 người làm việc trong lĩnh vực công nghệ thông tin (CNTT) và chuyển đổi số, trong đó 424 người có trình độ chuyên ngành CNTT.

Hà Tĩnh sẽ tiếp tục tập trung đào tạo, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức về ứng dụng CNTT, chuyển đổi số.
Hà Tĩnh sẽ tiếp tục tập trung đào tạo, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức về ứng dụng CNTT, chuyển đổi số.

Hạ tầng kỹ thuật tại Hà Tĩnh đang được đầu tư đồng bộ, với mạng di động 4G phủ rộng 99% khu vực dân cư và kết nối internet đến 100% trung tâm xã. Tỉnh đã triển khai nhiều nền tảng số và cơ sở dữ liệu, trong đó có 28 nền tảng và cơ sở dữ liệu dùng chung của tỉnh đã được kết nối liên thông với nền tảng dữ liệu quốc gia.

Một số cơ sở dữ liệu đã được triển khai và phát huy tốt trong công tác khai thác, định hướng quản lý, phục vụ chỉ đạo điều hành và cung cấp thông tin, dịch vụ cho người dân, doanh nghiệp. Trong xây dựng chính quyền số, tỉnh đã triển khai nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu tỉnh và đưa vào khai thác. Cổng dịch vụ công trực tuyến đã được triển khai, đáp ứng yêu cầu liên thông từ Trung ương đến xã.

Về kinh tế số và thương mại điện tử, tỉnh đã đảm bảo vận hành an toàn, ổn định hệ thống khai báo, thông quan điện tử và các chương trình vệ tinh. Về xã hội số, tỉnh đã tích hợp Sổ sức khỏe điện tử trên ứng dụng VNeID cho 510.234 người. Các lĩnh vực giáo dục, y tế, du lịch đã triển khai tốt các nền tảng phục vụ xã hội số.

Trong thời gian tới, Hà Tĩnh sẽ tiếp tục triển khai chuyển đổi số nhanh chóng, kịp thời, toàn diện, liên thông, đồng bộ trong hệ thống chính trị. Tỉnh sẽ tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng, dữ liệu và hoàn thiện các nền tảng dùng chung.

Để thực hiện được các mục tiêu đó, Hà Tĩnh sẽ tập trung nâng cao nhận thức, kiến thức, kỹ năng ứng dụng CNTT, chuyển đổi số cho cán bộ, công chức, viên chức, người dân và doanh nghiệp. Tỉnh cũng sẽ thành lập Văn phòng Điều phối Chuyển đổi số cấp tỉnh để triển khai, điều phối, giám sát các hoạt động liên quan đến chuyển đổi số.

]]>
Chuyển đổi số hạ tầng công: Đầu tư thông minh cho phát triển thực sự https://duankhudothi.com/chuyen-doi-so-ha-tang-cong-dau-tu-thong-minh-cho-phat-trien-thuc-su/ Mon, 25 Aug 2025 22:03:35 +0000 https://duankhudothi.com/chuyen-doi-so-ha-tang-cong-dau-tu-thong-minh-cho-phat-trien-thuc-su/

Chuyển đổi số trong khu vực công tại Việt Nam hiện nay đang trở thành một yêu cầu thiết yếu nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển và nâng cao chất lượng dịch vụ công. Tuy nhiên, việc đầu tư vào chuyển đổi số một cách hiệu quả và tạo ra sự phát triển bền vững vẫn còn là một thách thức lớn. Để giải quyết thách thức này, các chuyên gia cho rằng cần có một cách tiếp cận toàn diện và đổi mới trong việc phát triển hệ sinh thái số.

Theo ông Nguyễn Minh Khôi, Giám đốc Chính sách & Chuyển đổi tại Viện Tony Blair vì Thay đổi Toàn cầu, chìa khóa để thành công trong chuyển đổi số không chỉ nằm ở việc đầu tư vào hạ tầng phần cứng hay nâng cao kỹ năng công nghệ thông tin cơ bản. Thay vào đó, Việt Nam cần thay đổi tư duy và tập trung vào xây dựng một hệ sinh thái số toàn diện. Hệ sinh thái này bao gồm hạ tầng, thể chế và con người làm việc cùng nhau như một nền tảng điều phối chính sách, dữ liệu và dịch vụ công.

Phó Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam Phạm Mạnh Hùng trao đổi ý kiến cùng các đại biểu tham gia diễn đàn.
Phó Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam Phạm Mạnh Hùng trao đổi ý kiến cùng các đại biểu tham gia diễn đàn.

Ông Khôi nhấn mạnh rằng việc xây dựng một hệ sinh thái số như vậy sẽ giúp Việt Nam tận dụng tối đa lợi ích của chuyển đổi số, đồng thời giảm thiểu các rủi ro và thách thức. Hạ tầng số sẽ đóng vai trò là xương sống của hệ sinh thái, cung cấp kết nối và khả năng tiếp cận thông tin cho mọi người dân và doanh nghiệp. Thể chế số sẽ giúp tạo ra một môi trường pháp lý và chính sách hỗ trợ cho sự phát triển của hệ sinh thái số, trong khi con người sẽ là yếu tố quan trọng trong việc sử dụng và tương tác với hệ sinh thái này.

Một hệ sinh thái số như vậy cũng sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển của các dịch vụ công trực tuyến, giúp cải thiện hiệu suất và giảm thiểu thời gian chờ đợi cho người dân. Dữ liệu sẽ được thu thập, phân tích và sử dụng để tạo ra các quyết định thông minh và cải thiện chất lượng dịch vụ công. Hơn nữa, hệ sinh thái số sẽ giúp tăng cường sự minh bạch và trách nhiệm giải trình trong việc quản lý và cung cấp dịch vụ công.

Để xây dựng một hệ sinh thái số như vậy, Việt Nam cần có một chiến lược toàn diện và dài hạn, bao gồm việc đầu tư vào hạ tầng số, nâng cao kỹ năng số cho người dân và doanh nghiệp, và tạo ra một môi trường pháp lý và chính sách hỗ trợ. Ông Khôi cũng nhấn mạnh rằng việc hợp tác giữa các cơ quan chính phủ, doanh nghiệp và tổ chức xã hội sẽ là yếu tố quan trọng trong việc xây dựng và phát triển hệ sinh thái số này.

Với cách tiếp cận toàn diện và đổi mới như vậy, Việt Nam có thể tận dụng tối đa lợi ích của chuyển đổi số và tạo ra sự phát triển bền vững trong khu vực công. Việc đầu tư vào chuyển đổi số không chỉ là một yêu cầu cấp thiết mà còn là một cơ hội để Việt Nam nhảy lên trước trong lĩnh vực công nghệ và dịch vụ công, đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.

Viện Tony Blair vì Thay đổi Toàn cầu là một tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở tại Vương quốc Anh, hoạt động với mục tiêu hỗ trợ các quốc gia trong việc giải quyết các thách thức phát triển và tạo ra sự thay đổi tích cực. Thông qua các chương trình và dự án của mình, Viện Tony Blair vì Thay đổi Toàn cầu cung cấp các giải pháp đổi mới và hỗ trợ kỹ thuật cho các quốc gia trong việc xây dựng và phát triển các hệ sinh thái số.

]]>
Bắc Ninh đẩy mạnh chuyển đổi số ngành Nông nghiệp với công nghệ hiện đại https://duankhudothi.com/bac-ninh-day-manh-chuyen-doi-so-nganh-nong-nghiep-voi-cong-nghe-hien-dai/ Mon, 25 Aug 2025 14:05:57 +0000 https://duankhudothi.com/bac-ninh-day-manh-chuyen-doi-so-nganh-nong-nghiep-voi-cong-nghe-hien-dai/

Tỉnh Bắc Ninh đang tích cực triển khai chuyển đổi số trong ngành Nông nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sản xuất. Đây được xem là giải pháp đột phá giúp tạo động lực mới cho tăng trưởng ngành Nông nghiệp, tối ưu hóa các khâu sản xuất, giảm thiểu chi phí và tăng lợi nhuận.

Tỉnh Bắc Ninh đã xác định nông nghiệp là một trong 9 lĩnh vực ưu tiên trong lộ trình chuyển đổi số, với mục tiêu nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, cũng như tối ưu hóa các khâu sản xuất. Việc này không chỉ giúp ngành Nông nghiệp phát triển bền vững mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.

Một trong những hiệu quả đáng kể của chuyển đổi số trong ngành Nông nghiệp của tỉnh Bắc Ninh là việc đưa vào vận hành Trung tâm giám sát, điều hành quản lý bảo vệ rừng. Tại đây, 9 hệ thống camera được lắp đặt tại các điểm đỉnh núi cao để quan sát, cảnh báo cháy rừng, chặt phá, lấn chiếm rừng. Đồng thời, 19 hệ thống camera được đặt tại các cửa rừng để quan sát, tự động cảnh báo khi có người, phương tiện xuất hiện tại các khu vực cửa rừng. Điều này giúp cho việc quản lý và bảo vệ rừng trở nên hiệu quả hơn.

Trong lĩnh vực chăn nuôi, tỉnh Bắc Ninh đã vận hành hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quản lý về chăn nuôi cũng như cấp giấy chứng nhận an toàn thực phẩm. Ngoài ra, tỉnh cũng đã xây dựng mô hình ứng dụng công nghệ số vào nuôi ghép cá trắm cỏ; công nghệ Biofloc vào nuôi cá rô phi thâm canh trong ao; công nghệ thông tin trong quản lý dịch bệnh động vật trực tuyến.

Để chuyển đổi số mang lại hiệu quả thiết thực, thời gian tới ngành Nông nghiệp Bắc Ninh sẽ tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Trong đó, nhiệm vụ hoàn thiện hạ tầng công nghệ số hiện đại, đồng bộ và nâng cao trình độ, năng lực tiếp cận, đưa công nghệ số vào quản lý, sản xuất nông nghiệp được ưu tiên hàng đầu.

Tỉnh Bắc Ninh cũng đang hoàn thiện hạ tầng số, phát triển nông nghiệp thông minh dựa trên nền tảng dữ liệu, nhất là hệ thống dữ liệu lớn về đất đai, cây trồng, vật nuôi, thời tiết, môi trường, tự động hóa quy trình sản xuất, truy xuất nguồn gốc và phát triển thương mại điện tử. Qua đó góp phần khắc phục điểm yếu cố hữu sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, tạo thuận lợi cho nông sản tiếp cận trực tiếp với người tiêu dùng.

Một số điển hình về chuyển đổi số trong ngành Nông nghiệp tại Bắc Ninh bao gồm việc Hợp tác xã Nông nghiệp xanh Yên Thế đã tiên phong thực hiện gắn tem truy xuất nguồn gốc đối với sản phẩm gà đồi Yên Thế từ nhiều năm nay. Hiện nay, nhiều cơ sở chăn nuôi đã áp dụng hệ thống cảm biến điều khiển tiểu khí hậu chuồng nuôi, cho ăn và cấp nước uống tự động.

Đến nay, Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết, tỉnh đã xây dựng bản đồ số hóa các vùng sản xuất tập trung, vùng chuyên canh nông sản chủ lực và mã số vùng trồng quy mô từ 10 ha trở lên. Cùng đó, thực hiện số hóa vùng trồng cây ăn quả tập trung để quản lý quy trình sản xuất VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ; xây dựng cơ sở dữ liệu về các sản phẩm khu vực trồng trọt trọng điểm, áp dụng phần mềm số hóa quy trình chấm điểm, đánh giá, phân hạng sản phẩm OCOP.

Trong thời gian tới, ngành Nông nghiệp Bắc Ninh sẽ tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số vào sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, chú trọng phát triển thương mại điện tử, số hóa dữ liệu sản xuất, kinh doanh, làm cơ sở cho việc quản lý, truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

]]>
Quảng Ngãi: Chính quyền 2 cấp vận hành trơn tru nhờ hạ tầng số https://duankhudothi.com/quang-ngai-chinh-quyen-2-cap-van-hanh-tron-tru-nho-ha-tang-so/ Fri, 01 Aug 2025 18:01:11 +0000 https://duankhudothi.com/quang-ngai-chinh-quyen-2-cap-van-hanh-tron-tru-nho-ha-tang-so/

Sau ba tuần triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, các trung tâm phục vụ hành chính công tại tỉnh Quảng Ngãi đã phần nào khắc phục những khó khăn ban đầu, từng bước giải quyết thủ tục hành chính một cách nhịp nhàng và thông suốt. Hạ tầng số chính là giải pháp then chốt giúp mô hình này phát huy hiệu quả.

Người dân ngồi kê khai hồ sơ tại Trung tâm phục vụ hành chính công phường Cẩm Thành, tỉnh Quảng Ngãi.
Người dân ngồi kê khai hồ sơ tại Trung tâm phục vụ hành chính công phường Cẩm Thành, tỉnh Quảng Ngãi.

Tại trung tâm phục vụ hành chính công xã Nghĩa Giang, anh Ngô Linh Ty đang hỗ trợ vợ khai báo thông tin để đăng ký kinh doanh. Anh Ty cho biết, trước đây muốn đăng ký kinh doanh phải lên tỉnh, nhưng giờ đây có thể đăng ký tại xã, giúp anh và nhiều người thuận lợi hơn trong thủ tục hành chính.

Đến nay việc giải quyết thủ tục hành chính trên phầm mềm của trung tâm phục vụ hành chính công ở tỉnh Quảng Ngãi đã cơ bản ổn định
Đến nay việc giải quyết thủ tục hành chính trên phầm mềm của trung tâm phục vụ hành chính công ở tỉnh Quảng Ngãi đã cơ bản ổn định

Xã Nghĩa Giang là một trong số 24 xã, phường ở tỉnh Quảng Ngãi từng bị Trung ương nhắc nhở và yêu cầu UBND tỉnh Quảng Ngãi kiểm tra, báo cáo vì không phát sinh hồ sơ thủ tục hành chính trong bốn ngày đầu tháng 7. Tuy nhiên, bà Lê Thị Mỹ Nương, Phó Giám đốc Trung tâm phục vụ hành chính công xã Nghĩa Giang, cho biết rằng ngày đầu tiên vận hành chính quyền hai cấp, trung tâm đã tiếp nhận và xử lý trực tiếp 16 hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính.

Người dân đến làm thủ tục tại Trung tâm phục vụ hành chính công xã Bình Sơn mới
Người dân đến làm thủ tục tại Trung tâm phục vụ hành chính công xã Bình Sơn mới

Bà Nương cũng cho biết rằng trong những ngày đầu, hệ thống phần mềm vẫn còn những trục trặc, chưa thông suốt. Tuy nhiên, đến ngày 6/7, mọi thủ tục đã cơ bản ổn định để trung tâm giải quyết hồ sơ cho người dân trên cổng dịch vụ công.

Thực tế, kể từ khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Trung tâm phục vụ hành chính công chính là mấu chốt để giải quyết thủ tục hành chính cho nhân dân trên địa bàn các xã, phường, đặc khu. Những ngày đầu, các trung tâm này, nhất là ở những vùng sâu, vùng xa, còn những khó khăn về hạ tầng giao thông, hạ tầng số, việc sử dụng phần mềm khai báo trên cổng dịch vụ công quốc gia còn bỡ ngỡ, lúng túng.

Công chức trung tâm phục vụ hành chính công xã Nghĩa Giang, tỉnh Quảng Ngãi giải quyết thủ tục cho người dân trên cổng dịch vụ công quốc gia
Công chức trung tâm phục vụ hành chính công xã Nghĩa Giang, tỉnh Quảng Ngãi giải quyết thủ tục cho người dân trên cổng dịch vụ công quốc gia

Sau khi hợp nhất tỉnh Quảng Ngãi và Kon Tum, tỉnh Quảng Ngãi (mới) có 96 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 9 phường, 86 xã và 1 đặc khu Lý Sơn. Để mô hình chính quyền hai cấp đi vào hoạt động hiệu quả, lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi chỉ đạo các xã, phường, đặc khu thành lập Trung tâm phục vụ hành chính công cấp tỉnh, cấp xã.

Ông Nguyễn Thanh Hoài, Phó Giám đốc phụ trách Trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh Quảng Ngãi, cho biết rằng đến nay, sau ba tuần vận hành, các hoạt động giải quyết thủ tục hồ sơ của nhân dân đã cơ bản thông suốt.

Việc vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp gắn với đẩy mạnh xây dựng chính quyền số, chuyển đổi số là xu thế tất yếu. Đây cũng là cơ hội để tổ chức bộ máy chính quyền hai cấp hoạt động hiệu lực, hiệu quả, tạo ra những đột phá trong quản lý nhà nước, thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển nhanh và bền vững, nâng cao toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân.

]]>
Lâm Đồng tiên phong chuyển đổi số toàn diện với Tập đoàn Viettel https://duankhudothi.com/lam-dong-tien-phong-chuyen-doi-so-toan-dien-voi-tap-doan-viettel/ Wed, 23 Jul 2025 03:04:50 +0000 https://duankhudothi.com/lam-dong-tien-phong-chuyen-doi-so-toan-dien-voi-tap-doan-viettel/

Lâm Đồng là tỉnh tiên phong trên cả nước thực hiện chương trình chuyển đổi số toàn diện với Tập đoàn Viettel ngay sau khi sáp nhập. Sự kiện này thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của chính quyền tỉnh trong việc ổn định tổ chức và đẩy nhanh tốc độ phát triển.

Thác K50 mộng mơ mùa hoa ngô đồng giữa đại ngàn Kon Chư Răng
Thác K50 mộng mơ mùa hoa ngô đồng giữa đại ngàn Kon Chư Răng

Theo Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng, ông Hồ Văn Mười, mặc dù tỉnh đã triển khai một số hạng mục về chuyển đổi số, vẫn còn nhiều việc cần thực hiện để đẩy mạnh hơn nữa quá trình này. Đặc biệt, việc đồng bộ dữ liệu và nền tảng từ các tỉnh đã sáp nhập là một thách thức lớn mà tỉnh đang phải đối mặt.

Trong buổi làm việc với Tập đoàn Viettel, UBND tỉnh Lâm Đồng đã đề xuất hỗ trợ để đẩy mạnh chuyển đổi số trên các lĩnh vực chính quyền số, kinh tế số và xã hội số. Tỉnh mong muốn xây dựng hạ tầng số đồng bộ, cơ sở dữ liệu dùng chung và các nền tảng tích hợp để nâng cao hiệu quả quản trị và phục vụ người dân và doanh nghiệp thông qua ứng dụng công nghệ.

Mùa sen nở rộ thu hút du khách đến với vùng non nước hùng vĩ Ninh Bình
Mùa sen nở rộ thu hút du khách đến với vùng non nước hùng vĩ Ninh Bình

Cụ thể, Lâm Đồng đề nghị Viettel hỗ trợ phát triển hạ tầng số và kết nối 4G/5G trên toàn tỉnh, triển khai Hệ thống một cửa điện tử, ứng dụng chữ ký số, kết nối và làm sạch dữ liệu từ các tỉnh cũ, cũng như triển khai hệ thống báo cáo phân tích dữ liệu và cảnh báo sớm phục vụ công tác điều hành của UBND tỉnh.

Đồng chí Phó TGĐ Tập đoàn Cao Anh Sơn chia sẻ về những nhóm việc và lộ trình cụ thẻ của các chương trình hành động số cho tỉnh
Đồng chí Phó TGĐ Tập đoàn Cao Anh Sơn chia sẻ về những nhóm việc và lộ trình cụ thẻ của các chương trình hành động số cho tỉnh

Ngoài ra, tỉnh Lâm Đồng cũng hy vọng Viettel sẽ xem xét chọn Lâm Đồng làm địa điểm triển khai các dự án nhà máy công nghệ cao, như nhà máy bán dẫn và trung tâm dữ liệu.

Chủ tịch – Tổng Giám đốc Tập đoàn Viettel, ông Tào Đức Thắng, đã có cuộc trao đổi trực tiếp với Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Lâm Đồng và Chủ tịch UBND tỉnh Hồ Văn Mười, lắng nghe các đề xuất của tỉnh. Ông Thắng cho biết, dựa trên kinh nghiệm triển khai chuyển đổi số của Viettel, có 6 mục tiêu quan trọng cần phối hợp thực hiện sớm, bao gồm hoàn thiện thể chế, thu thập và số hóa dữ liệu, xây dựng và nâng cấp hạ tầng, xây dựng các bài toán ứng dụng, bảo đảm an ninh và an toàn thông tin, và bảo đảm nguồn lực cho quá trình triển khai.

Tỉnh Lâm Đồng được thành lập trên cơ sở sáp nhập ba tỉnh cũ là Lâm Đồng, Đắk Nông và Bình Thuận. Sau sáp nhập, tỉnh có diện tích 24.233 km², lớn nhất cả nước, với dân số khoảng 3,87 triệu người và 124 đơn vị hành chính cấp xã. Năm 2024, GRDP của tỉnh đạt 319.887 tỷ đồng, tăng trưởng 4,02% so với năm trước, xếp hạng 8/34 toàn quốc.

Việc sáp nhập đã mang lại cho Lâm Đồng một tầm vóc phát triển mới, với nền kinh tế đa dạng và không gian rộng mở để triển khai chuyển đổi số, đặc biệt là trong các lĩnh vực kinh tế trọng điểm như nông nghiệp và du lịch. Tuy nhiên, địa phương cũng phải đối mặt với nhiều thách thức như quy mô địa bàn rộng, địa hình chia cắt, sự đa dạng về dân tộc… Đây là những yếu tố đặt ra yêu cầu cấp thiết trong việc phổ cập công nghệ và triển khai các giải pháp chuyển đổi số phù hợp với thực tiễn.

]]>
Nâng cao liên kết doanh nghiệp để tăng sức cạnh tranh https://duankhudothi.com/nang-cao-lien-ket-doanh-nghiep-de-tang-suc-canh-tranh/ Fri, 18 Jul 2025 05:20:43 +0000 https://duankhudothi.com/nang-cao-lien-ket-doanh-nghiep-de-tang-suc-canh-tranh/

Trong bối cảnh thế giới đầy biến động, liên kết doanh nghiệp đang trở thành một yếu tố quan trọng giúp các doanh nghiệp mở rộng và đa dạng hóa thị trường, kết nối và hiện thực hóa các mô hình kinh doanh mới. Thông qua việc liên kết, doanh nghiệp có thể chia sẻ và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, giảm thiểu rủi ro và ứng phó hiệu quả với các diễn biến bất lợi, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh.

Đánh giá của doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo về các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh quý I/2025 (theo Báo cáo kết quả khảo sát tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý I/2025 do Cục Thống kê (Bộ Tài chính) thực hiện)
Đánh giá của doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo về các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh quý I/2025 (theo Báo cáo kết quả khảo sát tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý I/2025 do Cục Thống kê (Bộ Tài chính) thực hiện)

Các hình thức liên kết doanh nghiệp hiện nay rất đa dạng, bao gồm hợp tác doanh nghiệp cùng ngành, hình thành chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng, đầu tư, góp vốn, mua bán, sáp nhập và hình thành các nhóm công ty, ký kết hợp tác chiến lược. Đặc biệt, trong mối liên kết với doanh nghiệp nước ngoài, số lượng doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia có xu hướng tăng.

Đề xuất, kiến nghị, mong muốn của doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh (theo Báo cáo kết quả khảo sát tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý I/2025 do Cục Thống kê (Bộ Tài chính) thực hiện).
Đề xuất, kiến nghị, mong muốn của doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh (theo Báo cáo kết quả khảo sát tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý I/2025 do Cục Thống kê (Bộ Tài chính) thực hiện).

Liên kết giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài nhà nước có điều kiện thuận lợi để phát triển thông qua chủ trương cổ phần hóa và đa dạng hóa sở hữu doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, doanh nghiệp Việt Nam vẫn thiếu sự liên kết chặt chẽ có tính hệ thống và bài bản. TS. Trần Thị Hồng Minh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, cho biết Việt Nam đã có một số doanh nghiệp lớn tham gia cạnh tranh quốc tế và tham gia một số khâu của chuỗi giá trị sản xuất khu vực và thế giới.

Tuy nhiên, mạng lưới doanh nghiệp liên kết vẫn bị giới hạn trong phạm vi số ít các doanh nghiệp cùng hệ thống sở hữu. Đồng thời, còn thiếu các doanh nghiệp lớn, cả doanh nghiệp nhà nước và khu vực tư nhân, có khả năng kết nối, làm chủ chuỗi giá trị và dẫn dắt hệ sinh thái doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước.

Hầu hết doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hoạt động đơn lẻ và chưa chủ động tham gia vào các quan hệ đối tác, liên kết. Trong giai đoạn kinh tế khó khăn, chuỗi cung ứng đứt gãy, các doanh nghiệp trong nước không tạo được vòng tuần hoàn chặt chẽ để cùng liên kết, cung ứng, chia sẻ và tối đa hóa đầu vào, tiêu thụ sản phẩm đầu ra.

Số lượng doanh nghiệp trong nước tham gia vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia và doanh nghiệp FDI còn hạn chế. Điều này cho thấy sự cần thiết phải tăng cường liên kết doanh nghiệp để nâng cao năng lực cạnh tranh.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, bao gồm năng lực nội tại của phần lớn doanh nghiệp Việt Nam còn yếu, thể chế, chính sách thúc đẩy liên kết doanh nghiệp chưa đủ. Do đó, cần có các giải pháp đồng bộ để thúc đẩy liên kết doanh nghiệp, bao gồm việc tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế, pháp luật, môi trường kinh doanh, xây dựng và phát triển hạ tầng số hiện đại, và chính sách ưu đãi vượt trội về thuế, tiếp cận vốn, bảo lãnh tín dụng.

Các chuyên gia cũng kiến nghị việc cần thiết phải điều chỉnh chính sách thu hút đầu tư nước ngoài theo hướng nâng cao điều kiện ràng buộc về tỷ lệ nội địa hóa và tỷ lệ sản phẩm, dịch vụ được cung cấp bởi các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam. Nhà nước cần đầu tư và có cơ chế ưu đãi đầu tư xây dựng các khu công nghiệp chuyên biệt cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Cần thúc đẩy hình thành và phát triển các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam quy mô lớn đóng vai trò liên kết, quy tụ, dẫn dắt doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước ở một số ngành, lĩnh vực có thể đem lại vị thế quan trọng của quốc gia trong chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu.

]]>