Đồng bào dân tộc thiểu số – Duankhudothi.com https://duankhudothi.com Cập nhật thông tin mới nhất về các dự án khu đô thị, bất động sản, quy hoạch, thiết kế và chính sách. Fri, 19 Sep 2025 07:45:21 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.7.2 https://cloud.linh.pro/duankhudothi/2025/08/duankhudothi.svg Đồng bào dân tộc thiểu số – Duankhudothi.com https://duankhudothi.com 32 32 Đắk Lắk: Thưởng thức miễn phí món ăn độc đáo của đồng bào dân tộc thiểu số https://duankhudothi.com/dak-lak-thuong-thuc-mien-phi-mon-an-doc-dao-cua-dong-bao-dan-toc-thieu-so/ Fri, 19 Sep 2025 07:45:18 +0000 https://duankhudothi.com/dak-lak-thuong-thuc-mien-phi-mon-an-doc-dao-cua-dong-bao-dan-toc-thieu-so/

Ngày 26-7, tại xã Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk, một hoạt động văn hóa đặc sắc và ý nghĩa đã diễn ra trong không khí ấm áp và sôi nổi. Hội thi nấu ăn với các món ăn truyền thống của người đồng bào dân tộc thiểu số đã thu hút sự quan tâm và tham gia của nhiều người dân địa phương.

Chương trình này được tổ chức nhằm chào mừng 78 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7), thể hiện sự quan tâm và tri ân của cộng đồng đối với những người đã hy sinh và đóng góp cho Tổ quốc. Hội thi nấu ăn không chỉ là một hoạt động giải trí đơn thuần mà còn mang ý nghĩa sâu sắc về việc bảo tồn và phát huy giá trị của văn hóa ẩm thực truyền thống các dân tộc thiểu số.

Các món ăn được chế biến theo phương pháp truyền thống, không chỉ mang lại hương vị đặc trưng của từng dân tộc mà còn thể hiện sự đoàn kết và giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng dân tộc thiểu số tại Đắk Lắk. Sự đa dạng và phong phú của các món ăn đã khiến cho người dân địa phương và du khách không thể không trầm trồ và ngưỡng mộ trước tài năng và sự sáng tạo của các đầu bếp.

Thông qua hoạt động này, người dân địa phương và du khách có cơ hội trải nghiệm và tìm hiểu sâu sắc hơn về phong tục tập quán, cũng như sự đa dạng văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Hội thi nấu ăn là một hoạt động thiết thực, giúp tăng cường sự gắn kết và giao lưu giữa các cộng đồng dân tộc, đồng thời quảng bá những giá trị văn hóa đặc sắc của từng dân tộc đến với công chúng rộng lớn hơn.

Tỉnh Đắk Lắk là một địa phương có nền văn hóa đa dạng và phong phú, với sự hiện diện của nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số. Việc tổ chức các hoạt động văn hóa như hội thi nấu ăn không chỉ góp phần bảo tồn và phát huy giá trị của văn hóa truyền thống mà còn thể hiện sự quan tâm và trân trọng của chính quyền và cộng đồng đối với di sản văn hóa của các dân tộc.

Với những hoạt động thiết thực và ý nghĩa như thế này, tỉnh Đắk Lắk hy vọng sẽ tiếp tục thu hút được nhiều du khách đến thăm và trải nghiệm, từ đó tăng cường sự hiểu biết và gắn kết giữa các cộng đồng dân tộc trên địa bàn tỉnh.

]]>
Cà Mau: Giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số https://duankhudothi.com/ca-mau-giam-ngheo-ben-vung-o-vung-dong-bao-dan-toc-thieu-so/ Wed, 17 Sep 2025 06:59:41 +0000 https://duankhudothi.com/ca-mau-giam-ngheo-ben-vung-o-vung-dong-bao-dan-toc-thieu-so/

Cà Mau đã triển khai hiệu quả các chính sách dân tộc trong những năm qua, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế – xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Hạ tầng giao thông được đầu tư nâng cấp, các công trình dân sinh được xây dựng và sửa chữa khang trang, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số được nâng lên đáng kể. Chính sách dân tộc đã làm thay đổi rõ nét diện mạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Cà Mau.

Nhờ chính quyền địa phương hỗ trợ vốn tín dụng ưu đãi theo Nghị định số 28/2022/NĐ-CP và kỹ thuật sản xuất, ông Thạch Xúa nuôi tôm sú quảng canh cải tiến cho hiệu quả kinh tế cao. Ảnh: Phan Bình
Nhờ chính quyền địa phương hỗ trợ vốn tín dụng ưu đãi theo Nghị định số 28/2022/NĐ-CP và kỹ thuật sản xuất, ông Thạch Xúa nuôi tôm sú quảng canh cải tiến cho hiệu quả kinh tế cao. Ảnh: Phan Bình

Việc triển khai đồng bộ các Chương trình mục tiêu quốc gia đã góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho đồng bào dân tộc thiểu số. Tại xã Nguyễn Phích, nơi có đông đồng bào Khmer sinh sống, công tác giảm nghèo đã đạt được kết quả tích cực. Diện mạo ấp Khmer đang khởi sắc, đời sống của người dân không ngừng được cải thiện. Ông Huỳnh Nhạt, Trưởng ấp 7, xã Nguyễn Phích cho biết, đồng bào dân tộc Khmer ở địa phương đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước, như đầu tư xây dựng cầu, đường giao thông, điện lưới, trạm xá, trường học, hỗ trợ vốn và kỹ thuật sản xuất. Nhờ vậy, đến nay, ấp 7 còn 12 hộ nghèo và 3 hộ cận nghèo.

Ông Thạch Xúa, một hộ dân ở ấp 7, xã Nguyễn Phích, đã vươn lên thoát nghèo nhờ được hỗ trợ vốn tín dụng ưu đãi và kỹ thuật sản xuất. Gia đình ông hiện có thu nhập hơn 100 triệu đồng/năm. Các địa phương có đông đồng bào Khmer sinh sống đã cụ thể hóa những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phù hợp với thực tế của địa phương, như mô hình hỗ trợ vốn để bà con có điều kiện cải tạo đất xen canh rau màu, chăn nuôi, trồng cây ăn trái, mở cửa hàng mua bán nhỏ… giúp nhiều hộ Khmer cải thiện thu nhập, thoát nghèo bền vững.

Tuy nhiên, công tác giảm nghèo ở Cà Mau giai đoạn 2021-2025 sẽ gặp nhiều khó khăn hơn do đòi hỏi giảm nghèo đa chiều, cao hơn, toàn diện hơn. Do đó, mỗi địa phương cần có quyết tâm mới, tầm nhìn xa hơn để có thể hoàn thành các mục tiêu giảm nghèo bền vững. Theo bà Nguyễn Thu Tư, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Cà Mau, từ nay đến cuối năm 2025, Cà Mau sẽ đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào các địa bàn đặc biệt khó khăn, giải quyết các vấn đề bức xúc nhất, ưu tiên hỗ trợ hộ nghèo, người dân tộc thiểu số có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

Tỉnh sẽ đẩy mạnh phân quyền, phân cấp cho địa phương, phù hợp với đặc thù vùng đồng bào dân tộc thiểu số; đồng thời hài hòa cơ chế, quy trình giữa các dự án, tránh trùng lặp đối tượng thụ hưởng và nâng cao hiệu quả đầu tư. Với sự chuẩn bị kỹ lưỡng, bài bản, cùng quyết tâm cao của các cấp, các ngành và sự đồng lòng của nhân dân, Cà Mau phấn đấu sẽ thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu giảm nghèo giai đoạn 2021-2025, nâng cao chất lượng cuộc sống cho đồng bào dân tộc thiểu số, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững.

]]>
Thái Nguyên: Phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi https://duankhudothi.com/thai-nguyen-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-vung-dan-toc-thieu-so-va-mien-nui/ Tue, 19 Aug 2025 06:33:52 +0000 https://duankhudothi.com/thai-nguyen-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-vung-dan-toc-thieu-so-va-mien-nui/

Thái Nguyên – một tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam – đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Với nhiều giải pháp đồng bộ và hiệu quả, tỉnh đã cải thiện đáng kể hạ tầng kỹ thuật, văn hóa – xã hội thiết yếu như điện, đường, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa tại các bản làng.

Bản Tèn xã Văn Lăng hứa hẹn là một điểm đến mới.
Bản Tèn xã Văn Lăng hứa hẹn là một điểm đến mới.

Những nỗ lực này không chỉ nâng cao mức sống của người dân mà còn làm thay đổi căn bản tập quán canh tác và bộ mặt bản làng. Các bản làng dân tộc thiểu số tại Thái Nguyên nay đã có những gam màu tươi sáng với những ngôi nhà mới xây dựng, đường sá được mở rộng và trải bê tông, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu và phát triển kinh tế. Theo thông tin từ trang web chính thức của tỉnh Thái Nguyên, việc đầu tư có trọng tâm trọng điểm, phù hợp với điều kiện, tiềm năng thế mạnh, phong tục tập quán của đồng bào đã thu được kết quả tích cực.

Truyền dạy đàn tính hát then cho lớp trẻ.
Truyền dạy đàn tính hát then cho lớp trẻ.

Công tác vận động quần chúng phát huy quyền làm chủ, sự tham gia chủ động của cộng đồng và người dân đã khơi dậy tinh thần nỗ lực vươn lên của đồng bào. Nhờ đó, tỷ lệ hộ nghèo giảm sâu, khoảng cách về mức sống so với bình quân chung của tỉnh từng bước thu hẹp. Sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa của các vùng dân tộc có bước phát triển mới.

Bản Tày xã Đồng Phúc dưới nắng ban mai.
Bản Tày xã Đồng Phúc dưới nắng ban mai.

Tỉnh Thái Nguyên cũng đẩy mạnh việc trang bị kiến thức về khoa học kỹ thuật, hỗ trợ vật tư phân bón, nguồn cây, con giống chuyển đổi cây trồng vật nuôi, phát triển ngành nghề, làng nghề truyền thống. Hệ thống hạ tầng viễn thông được xây dựng tạo điều kiện cho bà con tiếp cận các nền tảng công nghệ số. Một số sản phẩm nông nghiệp của tỉnh đã có giá trị thương phẩm cao, trong đó chè là cây trồng chủ lực. Nhiều địa phương đã tập trung phát triển và đã cho sản lượng, giá trị thương phẩm cao với các loại cây trồng như na, bưởi, quế…

Sản phẩm truyền thống như dệt, may trang phục dân tộc, mật ong, gạo nếp vải, cốm, miến dong, rượu men lá… đã đáp ứng yêu cầu về chất lượng, thị hiếu người tiêu dùng và đã đạt tiêu chuẩn OCOP. Bên cạnh những thành tựu, vẫn còn một số khó khăn và thách thức mà tỉnh cần phải vượt qua. Các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi địa hình trải rộng, mật độ dân cư không tập trung, trình độ sản xuất còn dựa nhiều vào yếu tố tự nhiên, phương thức canh tác giản đơn, giá trị kinh tế thấp, ít cơ hội tiếp cận việc làm phi nông nghiệp.

Cơ sở hạ tầng nhiều xã phía Bắc của tỉnh chưa được đầu tư hoàn thiện. Cơ chế, chính sách chưa đủ hấp dẫn thu hút doanh nghiệp có tiềm lực kinh tế mạnh đầu tư vào công nghiệp chế biến, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị tại các xã vùng sâu, vùng xa. Tuy nhiên, bản sắc văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số tại Thái Nguyên vẫn được giữ gìn và phát huy. Những nét đẹp mang giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào như ngôn ngữ, trang phục truyền thống, phong tục tập quán, nghi lễ tín ngưỡng, ẩm thực, dân ca dân vũ được các cấp ủy, chính quyền tạo điều kiện cho bà con bảo tồn và phát huy.

Mới đây, tỉnh Thái Nguyên đã ban hành đề án phát triển du lịch cộng đồng với nhiều triển vọng về các điểm đến mới và tạo thêm việc làm cho người dân. Làng du lịch sinh thái nhà sàn Thái Hải, Làng du lịch cộng đồng xóm Mỏ Gà, Làng văn hóa dân tộc bản Quyên… có thể coi là hình mẫu để nâng cao, nhân rộng. Trong thời gian tới, tỉnh cần tiếp tục quan tâm và có những giải pháp hiệu quả hơn nữa để phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi một cách bền vững.

]]>
Trung ương Hội LHPN: Tăng cường hỗ trợ phụ nữ Tuyên Quang phát huy hiệu quả vốn vay https://duankhudothi.com/trung-uong-hoi-lhpn-tang-cuong-ho-tro-phu-nu-tuyen-quang-phat-huy-hieu-qua-von-vay/ Sun, 10 Aug 2025 07:17:12 +0000 https://duankhudothi.com/trung-uong-hoi-lhpn-tang-cuong-ho-tro-phu-nu-tuyen-quang-phat-huy-hieu-qua-von-vay/

Ngày 25/7, tại Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Tuyên Quang, Đoàn công tác Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã tiến hành kiểm tra và giám sát hoạt động ủy thác, cũng như nắm bắt tình hình hoạt động công tác hội và phong trào phụ nữ tại tỉnh Tuyên Quang. Sự kiện có sự tham gia của các đồng chí lãnh đạo, bao gồm Ma Thế Hồng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh; Trần Lan Phương, Phó Chủ tịch Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; lãnh đạo Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh; và đại diện từ các sở, ngành liên quan.

Đồng chí Trần Lan Phương, Phó Chủ tịch Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát biểu tại buổi làm việc.
Đồng chí Trần Lan Phương, Phó Chủ tịch Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát biểu tại buổi làm việc.

Sau quá trình hợp nhất tỉnh, bộ máy các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Tuyên Quang đã được kiện toàn và sắp xếp ổn định, đảm bảo hoạt động thông suốt. Hội hiện có trên 335 nghìn hội viên, trong đó hơn 60% hội viên là đồng bào dân tộc thiểu số. Các hoạt động trọng tâm và phong trào thi đua yêu nước đã được điều chỉnh linh hoạt, tích hợp nội dung phù hợp với tình hình thực tế. Hoạt động nhận ủy thác với ngân hàng và các tổ chức tín dụng được triển khai đồng bộ, giúp hội viên phát triển kinh tế.

Đồng chí Ma Thế Hồng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh phát biểu tại buổi làm việc.
Đồng chí Ma Thế Hồng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh phát biểu tại buổi làm việc.

Tính đến ngày 30/6, dư nợ qua Ngân hàng CSXH tỉnh đạt hơn 3.000 tỷ đồng, qua Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hơn 1.500 tỷ đồng, nguồn vốn Quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển tỉnh tăng trưởng tích cực. Hoạt động của các tổ tiết kiệm và vay vốn ở cơ sở ngày càng phát huy hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng quản lý và giám sát sử dụng vốn vay.

Tại buổi làm việc, đại diện các đơn vị đã trao đổi và thảo luận về những vấn đề vướng mắc và khó khăn trong việc thực hiện hoạt động Hội, cũng như khó khăn trong hoạt động nhận ủy thác cho vay vốn trong bối cảnh các cấp Hội vừa vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.

Phát biểu tại buổi làm việc, đồng chí Ma Thế Hồng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, đã đánh giá cao tinh thần chủ động và quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo của Hội trong việc bám sát Nghị quyết Đại hội Phụ nữ các cấp và chỉ đạo của Trung ương Hội. Đồng chí đề nghị lãnh đạo Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh chỉ đạo sát sao, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc của Hội LHPN cấp cơ sở; đảm bảo nội dung chất lượng, đổi mới, thực tiễn, sát với yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Qua buổi kiểm tra và trao đổi trực tiếp tại cơ sở, đồng chí Trần Lan Phương, Phó Chủ tịch Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, đã đánh giá cao kết quả đạt được trong công tác Hội và kết quả thực hiện việc cho vay ủy thác tại địa phương. Đồng chí đề nghị Hội LHPN tỉnh tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách về tín dụng xã hội đến hội viên, phụ nữ, nhất là tại các địa bàn mới sau sáp nhập; triển khai tập huấn nghiệp vụ công tác hội; hỗ trợ hội viên sử dụng hiệu quả vốn vay thông qua các hoạt động hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp, tạo việc làm bền vững, góp phần phát triển kinh tế – xã hội.

]]>
Phát triển lâm nghiệp theo chuỗi giá trị để tăng trưởng vượt 5%/năm https://duankhudothi.com/phat-trien-lam-nghiep-theo-chuoi-gia-tri-de-tang-truong-vuot-5-nam/ Mon, 04 Aug 2025 02:33:12 +0000 https://duankhudothi.com/phat-trien-lam-nghiep-theo-chuoi-gia-tri-de-tang-truong-vuot-5-nam/

Lâm nghiệp đang nổi lên như một ngành xuất khẩu quan trọng với tiềm năng đạt mốc tỷ USD. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu tăng trưởng vượt 4,7-5%/năm và tiến tới mức hai con số trong tương lai, ngành lâm nghiệp cần thực hiện một cuộc chuyển đổi sâu sắc trong phương thức quản lý, tăng cường ứng dụng công nghệ trong chế biến và phát triển kinh tế lâm nghiệp dựa trên chuỗi giá trị.

Đề án phát triển giá trị đa dụng của hệ sinh thái rừng đến năm 2030, với tầm nhìn đến năm 2050, đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Mục tiêu của đề án tập trung vào việc phát triển giá trị đa dụng của hệ sinh thái rừng, sử dụng bền vững tài nguyên rừng, tạo việc làm và nâng cao đời sống cho cộng đồng dân tộc thiểu số, người dân miền núi và những người làm việc trong ngành rừng. Một trong những mục tiêu cụ thể là sản lượng gỗ khai thác trong nước sẽ đáp ứng ít nhất 80% vào năm 2030 và 100% vào năm 2050 nhu cầu nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến gỗ.

Bên cạnh đó, đề án cũng đặt ra mục tiêu rằng 100% gỗ và sản phẩm gỗ phải được sản xuất từ nguồn nguyên liệu gỗ hợp pháp, đáp ứng các yêu cầu của thị trường xuất khẩu và tiêu dùng trong nước. Để đạt được những mục tiêu này, các tỉnh có rừng đã tăng cường áp dụng các biện pháp quản lý và phát triển rừng bền vững.

Tại Bắc Giang, các doanh nghiệp đã ứng dụng khoa học kỹ thuật vào quản lý giống lâm nghiệp, thâm canh trồng rừng, cũng như kết hợp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Điều này đã góp phần nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng. Tương tự, tại tỉnh Cà Mau, kinh tế lâm nghiệp đã phát triển một cách bền vững với năng suất rừng trồng khu vực U Minh Hạ đạt từ 90-180 m3/ha/chu kỳ từ bốn đến sáu năm. Người dân địa phương đã đa dạng hóa nguồn thu nhập từ các hoạt động chính trong lâm nghiệp như trồng rừng, khai thác, vận chuyển và tiêu thụ lâm sản.

Tuy nhiên, trong bối cảnh xu hướng phòng vệ thương mại toàn cầu đang gia tăng, việc quản lý rừng bền vững và đáp ứng các quy định của thị trường xuất khẩu về xuất xứ và chứng chỉ rừng trở thành vấn đề then chốt để phát triển kinh tế lâm nghiệp một cách bền vững.

Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm cho biết rằng cả nước hiện có diện tích rừng trồng keo khoảng hơn 1 triệu ha, chiếm hơn 30% tổng diện tích rừng trồng toàn quốc. Nguồn nguyên liệu này đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp như sản xuất giấy và bột giấy, ván nhân tạo, dăm gỗ và sản xuất đồ gỗ phục vụ xuất khẩu.

Để gia tăng giá trị kinh tế lâm nghiệp, việc hạn chế khai thác gỗ non và để lại thêm từ 5-6 năm là cần thiết, giúp biến nguồn nguyên liệu này trở thành những cánh rừng gỗ lớn, từ đó gia tăng trữ lượng gỗ. Hiện đại hóa sản xuất và gia tăng chế biến sâu là hướng đi quan trọng để phát triển kinh tế lâm nghiệp. Kế hoạch phát triển rừng trồng sản xuất gỗ lớn giai đoạn 2024-2030 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định rằng đến năm 2030, tổng diện tích rừng trồng sản xuất gỗ lớn sẽ đạt khoảng 1 triệu ha.

Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam Ngô Sỹ Hoài cho rằng các đơn vị chủ rừng cần nỗ lực tham gia vào các dự án quản lý rừng bền vững và đạt chứng chỉ rừng bền vững. Họ cũng cần áp dụng kỹ thuật nuôi dưỡng và chuyển hóa rừng trồng cung cấp gỗ nhỏ thành rừng cung cấp gỗ lớn, nhằm nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng.

Thứ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Quốc Trị nhấn mạnh rằng ngành lâm nghiệp đang đứng trước nhiều thách thức khi xu hướng phòng vệ thương mại gia tăng kèm theo các quy định mới về xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ vào các thị trường như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước thuộc Liên minh châu Âu. Trong bối cảnh đó, các bên liên quan cần nâng cao năng lực quản trị rủi ro, phòng vệ thương mại, tăng khả năng tiếp cận vốn và xây dựng chuỗi giá trị bền vững từ khâu trồng rừng, chế biến đến phát triển hệ thống phân phối tại các thị trường trọng điểm.

]]>
Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng giúp dân tộc thiểu số thoát nghèo bền vững https://duankhudothi.com/vuon-quoc-gia-phong-nha-ke-bang-giup-dan-toc-thieu-so-thoat-ngheo-ben-vung/ Mon, 28 Jul 2025 22:32:37 +0000 https://duankhudothi.com/vuon-quoc-gia-phong-nha-ke-bang-giup-dan-toc-thieu-so-thoat-ngheo-ben-vung/

Trong những năm gần đây, Ban Quản lý Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng (VQG PN – KB) đã tích cực phối hợp với chính quyền các địa phương để triển khai các hoạt động tạo sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số (ĐBDTTS) sinh sống trong khu vực. Sự hỗ trợ này không chỉ giúp người dân nâng cao đời sống mà còn giảm áp lực lên tài nguyên rừng, cùng chung tay bảo vệ và phát triển rừng Di sản thiên nhiên thế giới.

Lễ hội đập trống của người Ma Coong ở xã Thượng Trạch thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia - Ảnh: P.P
Lễ hội đập trống của người Ma Coong ở xã Thượng Trạch thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia – Ảnh: P.P

VQG PN – KB là địa bàn sinh sống của 2 dân tộc thiểu số chính là Chứt và Bru – Vân Kiều. Đời sống của ĐBDTTS ở đây còn nhiều khó khăn, một số nơi thiếu đất sản xuất, và sinh kế của đồng bào chủ yếu phụ thuộc vào khai thác tài nguyên rừng. Để giải quyết vấn đề này, Ban Quản lý VQG PN – KB đã triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ, tạo sinh kế cho đồng bào.

Phó Giám đốc Ban Quản lý VQG PN – KB Đinh Huy Trí chia sẻ: “Chúng tôi nhận thức sâu sắc vai trò của ĐBDTTS trong việc tham gia bảo vệ và phát triển rừng. Vì vậy, cùng với sự quan tâm của tỉnh, những năm qua, Ban Quản lý VQG PN – KB phối hợp chặt chẽ với chính quyền các địa phương, dành nhiều nguồn lực để hỗ trợ, tạo sinh kế, cũng như xây dựng các công trình hạ tầng thiết yếu phục vụ đời sống cho đồng bào.”

Ông Bàn Văn Sơn, một tấm gương sáng trong phong trào người DTTS làm kinh tế giỏi, đã được hỗ trợ bởi dự án Bảo tồn và quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên khu vực PN – KB. Ông đã trồng một khu rừng trám và lim rộng hơn 6ha, phát triển tốt và tạo ra thu nhập ổn định. Mô hình của ông Sơn là một trong những ví dụ điển hình về việc hỗ trợ tạo sinh kế cho ĐBDTTS trong khu vực.

Ngoài ra, Ban Quản lý VQG PN – KB cũng đã ký hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng đặc dụng với cộng đồng dân cư ở 9 bản trên địa bàn xã Thượng Trạch, với diện tích hơn 10 nghìn ha. Điều này vừa tạo ra thu nhập ổn định vừa gắn trách nhiệm của chính cộng đồng dân cư ĐBDTTS trong việc chung tay bảo vệ rừng.

Phó Chủ tịch UBND xã Thượng Trạch Nguyễn Trường Chinh cho biết, so với trước thì hiện nay, tác động trái phép của ĐBDTTS trên địa bàn xã đến tài nguyên rừng được hạn chế ở mức tối đa. Có được kết quả này là nhờ Ban Quản lý VQG PN – KB đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương làm tốt công tác hỗ trợ sinh kế cho đồng bào và chính bà con cũng nâng cao ý thức trong việc giữ rừng.

VQG PN – KB cũng đang tiếp tục đa dạng hóa các sản phẩm du lịch văn hóa, lịch sử, du lịch cộng đồng, trong đó có các sản phẩm du lịch gắn với đời sống văn hóa độc đáo của ĐBDTTS trong khu vực. Đây cũng được xem là một trong những giải pháp tạo sinh kế bền vững nhất đối với ĐBDTTS khi họ trực tiếp được tham gia, được hưởng nguồn thu nhập cao từ các sản phẩm du lịch đó.

Lãnh đạo VQG PN – KB cho biết, ngoài các hoạt động về du lịch, để tạo sinh kế bền vững cho ĐBDTTS trong khu vực, hiện nay, từ nguồn vốn của chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững và chương trình thỏa thuận chi trả giảm phát thải khí nhà kính vùng Bắc Trung bộ (ERPA), đơn vị tiếp tục hỗ trợ kinh phí cho các thôn, bản nâng cấp cơ sở hạ tầng và tạo sinh kế giúp người dân, đặc biệt là ĐBDTTS giảm nghèo bền vững.

]]>