Nội dung chính
Điều 198a, khoản 6 Luật Các tổ chức tín dụng 2024 quy định rõ ràng về đối tượng được ủy quyền thu giữ tài sản bảo đảm.
Quy định pháp luật nền tảng
Luật Các tổ chức tín dụng (được sửa đổi, bổ sung năm 2025) tại Điều 198a, khoản 6 nêu rõ:
- Ngân hàng chỉ được ủy quyền thu giữ tài sản bảo đảm cho công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của ngân hàng đó.
- Trong trường hợp chuyển giao bắt buộc, quyền ủy quyền chuyển sang ngân hàng nhận chuyển giao hoặc công ty quản lý nợ của ngân hàng nhận chuyển giao.
- Doanh nghiệp mua bán, xử lý nợ chỉ có thể ủy quyền cho tổ chức tín dụng bán nợ hoặc công ty quản lý nợ tương ứng.
Áp dụng vào thực tiễn: Ngân hàng E và công ty con
Ngân hàng E muốn ủy quyền cho công ty con không có chức năng mua bán nợ nhằm thu giữ tài sản bảo đảm. Theo quy định trên, công ty con không thuộc phạm vi “công ty quản lý nợ và khai thác tài sản” của ngân hàng. Do đó, hành động này không phù hợp với luật hiện hành.
Hậu quả pháp lý tiềm ẩn
Nếu ngân hàng thực hiện ủy quyền không đúng quy định, các rủi ro có thể bao gồm:
- Vi phạm pháp luật, dẫn đến xử phạt hành chính.
- Khách hàng và bên vay có thể kháng cáo việc thu giữ tài sản.
- Ảnh hưởng uy tín và E‑E‑A‑T (Kinh nghiệm, Chuyên môn, Thẩm quyền, Tin cậy) của ngân hàng.
Giải pháp cho ngân hàng
Để tuân thủ luật, ngân hàng có thể:
- Thành lập hoặc hợp tác với công ty quản lý nợ chuyên nghiệp có giấy phép khai thác tài sản.
- Trong trường hợp chuyển giao bắt buộc, ủy quyền cho ngân hàng nhận chuyển giao hoặc công ty quản lý nợ của bên nhận.
- Rà soát lại các hợp đồng ủy quyền hiện có, đảm bảo mọi điều khoản đều phù hợp với Điều 198a.
Kết luận
Việc ủy quyền thu giữ tài sản bảo đảm cho công ty con không có chức năng quản lý nợ là vi phạm quy định của Luật Các tổ chức tín dụng 2024. Ngân hàng cần tuân thủ đúng đối tượng được phép ủy quyền để tránh rủi ro pháp lý và bảo vệ uy tín thương hiệu.
Bạn có thắc mắc về các quy định tài chính khác? Hãy để lại bình luận hoặc liên hệ với chuyên gia pháp lý của chúng tôi để được tư vấn chi tiết.